Error message

Notice: Undefined offset: 1 in counter_get_browser() (line 70 of /var/www/phauthuatnhi.com/public_html/sites/all/modules/contrib/counter/counter.lib.inc).

SONG THAI DÍNH NHAU

SONG THAI DÍNH NHAU

Giới thiệu tổng quát

Song thai dính nhau là những trẻ sinh đôi dính nhau từ trong trử cung. Hiện tượng này cực kì hiếm gặp, chỉ khoảng 1 trường hợp trên 50.000 thai sống.

Một nữa song thai dính nhau chết từ trong bụng mẹ. Những thai được sinh sống đa phần là nữ (tỉ lệ nữ: nam =3:1).

Cơ chế của việc dính nhau là do sự tách nhau không hoàn chỉnh của trứng được thụ tinh (để thành 2 trứng riêng biệt).

Song thai dính nhau có thể dính liền ở nhiều phần khác nhau: ngực, bụng, chậu, lưng, hay đầu. Tùy vị trí mà 2 trẻ sẽ chia nhau những bộ phận, cơ quan khác nhau

Phân Loại

Cơ quan chung

Dính ngực (A)

Tim, Gan, Dạ dày ruột

Dính bụng (B)

Gan, dạ dày ruột

Dính cùng cụt (C)

Cột sống, đường tiêu tiểu, đường sinh dục.

Dính chậu (D)

Khung chậu, đường tiểu, đường sinh dục, gan, ruột

Dính đầu (E)

Não

Dính lưng  (F)

Cột sống

 

Hình 1: Các loại song thai dính nhau

Khám thai định kỳ có thể phát hiện song thai dính nhau bắt đầu từ tuần thứ 12 thai kì (chính xác nhất sau tuần thứ 20). Những thai kì này được lên kế hoạch phẫu thuật lấy thai ở tuần thứ 36-38.

Các vấn đề điều trị trong song thai dính nhau:

1. Thai kì.

Khi phát hiện song thai dính nhau, cha mẹ sẽ được tư vấn bỏ thai nếu như khảo sát thấy thai dính nhau ở nhưng phần “chí mạng”. Ví dụ, dính não, 2 thai có chung một tim, hoặc dính nhau quá rộng.

Nếu cha mẹ quyết định giữ thai, thai kì sẽ được đặc vào nhóm nguy cơ cao và theo dõi sát. Nếu như thai sống được tới những tuần cuối, sẽ được cho thuốc trưởng thành phổi và được lên kế hoạch mổ lấy thai. Đôi khi phải mổ lấy thai cấp cứu ở những thai kì chuyển dạ sanh tự nhiên bất ngờ vì sanh khó.

2. Sau sanh- trước khi tách rời thai nhi.

Các công việc cần làm sau sanh gồm:

Hồi sức ổn định cho thai nhi: hổ trợ hô hấp, tuần hoàn, nuôi ăn.

Khảo sát dị tật một cách kĩ càng bằng thăm khám và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh (Siêu âm tim, CTscan, MRI). Tùy vị trí dính nhau các cơ quan sau cần được khảo sát: Tim mạch (số lượng tim, dị tật tim, dị tật mạch máu lớn), Gan - mật - tụy  (số lượng gan, số lượng túi mật, số lượng tụy…), Tiêu hóa (phân bố ruột, lỗ hậu môn), Tiết niệu (số lượng thận,  niệu quản, bàng quang, niệu đạo), Thần kinh ( tủy sống, đốt sống..), Da và Cơ xương.

Lên kế hoạch tách rời 2 thai nhi.

3. Phẫu thuật tách rời 2 thai nhi

Các vấn đề trong phẫu thuật:

Y Đức

Phẫu thuật tách rời song thai dính nhau lúc nào cũng liên quan tới vấn đề y đức, nhất là khi việc tách rời nhau cần phải hi sinh một trong hai thai nhi, hoặc có nguy cơ tử vong hết cả hai. Trong trường hợp này, quyết định thuộc về gia đình dưới sự tư vấn của Bác sỹ và hội đồng y đức.

Chỉ định tách rời là rõ ràng hơn khi một thai nhi đã chết hoặc một thai nhi có dị tật trầm trọng không thể sống sót, hoặc nếu không phẫu thuật thì sẽ mất cả 2 thai nhi.

Thời điểm phẫu thuật

Phẫu thuật cấp cứu trong trường hợp: có một trong 2 thai nhi trong tình trạng nguy kịch (suy tim, suy hô hấp) hoặc có những vẫn đề cấp cứu khác như xoắn ruột, vỡ túi thoát vị rốn, hay không có hậu môn…tỉ lệ có tử vong lên tới 70%.

Nếu 2 thai nhi ổn định, phẫu thuật sẽ được lên chương trình khi được 6-9 tháng tuổi, lúc các cấu trúc phân biệt rõ hơn và thai nhi chưa có nhận thức gì.

Vấn đề về kỹ thuật                     

Gây mê: cần nhiều bác sĩ và kĩ thuật viên chia làm 2 nhóm riêng biệt cho 2 bé.

Mất máu: số lượng máu cần chuẩn bị đôi khi phải gấp 5 lần lượng máu ước lượng của 2 bé.

Dị dạng bất thường chưa được khảo sát: vấn đề này nên luôn được đề phòng vì trên thực thế các phương tiện chẩn đoán hình ảnh ko thể nào khảo sát rõ hết 100% các dị dạng.

Thiếu da: cần có phương pháp kéo dãn da trước mổ từ 6-8 tuần để đủ da phủ trong mổ. Đôi khi phải chuẩn bị trước vật liệu đóng da nhân tạo.

Sau khi tách rời

Sau khi tách rời, có thể có những biến chứng phải đối mặt.

Suy tim (tách rời tim ở 2 trẻ dính ngực), suy các cơ quan khác, thiếu da, nhiễm trùng, xuất huyết, yếu liệt...

Tất cả các biến chứng đều có thể dẫn tới tử vong.

Tài liệu tham khảo 

1. H. Rode et al (2006), Four Decades of Conjoined Twins at Red Cross Children’s Hospital – lessons learned, SAMJ, Vol 96, pp: 931-940

2. M. H. Kaufman (2004), The Embryology of Conjoined Twins, Childs Nerv Syst, Vol 20, pp: 508-525.

3. M. H. Kaufman (2003), Conjoined Twins, JAMA, Vol 289, pp:1307-1310

4. James A. O'neill et al (1988), Surgical Experience with Thirteen Conjoined Twins, Ann. Surg., pp: 299-310.

5. Mark Winder, Andrew Law (2006), Separation of Pyopagus conjoined twins: A New Zealand Neurosurgical Experience, Journal of Clinical Neuroscience, pp: 968–975

6. Prashant Jain et al (2014),Surgical Separation of Pygopagus twins: A Case Report, J Ped Surg Case Reports , pp: 119- 122

7. Catherine A. Kingston et a (2001), Imaging in the Preoperative Assessment of Conjoined Twins, RadioGraphics, Vol 21, pp: 1187-1208

 

Lịch tư vấn

Địa chỉ tin cậy

Lượt truy cập

  • Tổng lượt truy cập735,038
  • Truy cập hôm nay89